۩ DIỄN ĐÀN TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG-BÌNH TRỊ-THĂNG BÌNH-QUẢNG NAM۩
Chào mừng bạn đến với diễn đàn trường THPT Lý Tự Trọng

۩ DIỄN ĐÀN TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG-BÌNH TRỊ-THĂNG BÌNH-QUẢNG NAM۩


 
Trang ChínhLiên kếtPortalCalendarTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng NhậpĐăng ký
Top posters
anhkuti (223)
 
administrator (217)
 
thanhlong (205)
 
no_love90 (186)
 
Kute Ngố (131)
 
hungxh (110)
 
lecuong12a (97)
 
thuystyle (87)
 
lai12a2009 (66)
 
sorry (45)
 

Vẻ đẹp đích thực của cái tôi trữ tình trong "Tống biệt hành" (*) Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down
Wed Feb 23, 2011 8:53 am
avatar
[Thành viên] - no_love90mod
mod
Bài viết : 186
PMP : 389
Được thanks : 2
Tham gia ngày : 15/02/2011
Tuổi : 28
Đến từ : 12/1

Bài gửiTiêu đề: Vẻ đẹp đích thực của cái tôi trữ tình trong "Tống biệt hành" (*)
Xem lý lịch thành viên http://vcdk08.forumvi.com

Tiêu đề: Vẻ đẹp đích thực của cái tôi trữ tình trong "Tống biệt hành" (*)

Vẻ đẹp đích thực của cái tôi trữ tình trong "Tống biệt hành" (*)

Lặng lẽ và sang trọng, Thâm Tâm xuất hiện trong phong trào Thơ Mới như cái cầu nối vừa kế thừa, vừa đoạn tuyệt với cả một nền thi ca cổ điển. Bài thơ bất hủ của ông, Tống biệt hành, không phải như Hoài Thanh nói, "làm sống lại không khí riêng của nhiều bài thơ cổ", mà chỉ mượn chiếc áo của thi ca cổ để bao bọc cho nội dung trữ tình của cái tôi hiện đại giữa buổi giao thời.

Sự thật, những gì cổ kính của Tống biệt hành chỉ là sự tưởng niệm nền văn chương điển phạm đã đi qua. Thể thơ, đề tài, hình ảnh, hình tượng và ngôn ngữ thơ như là sự vay mượn cái đã có để khơi sâu vào cái chưa có. Không khó lắm khi nhận ra sự đối lập triệt để giữa cổ điển và hiện đại trong mấy câu thơ hay nhất của bài thơ:

Đưa người ta không đưa qua sông

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm không vàng vọt

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Dòng sông, bóng chiều đã từng được dàn dựng như một bức tranh chung cho mọi cuộc phân ly trong bút pháp lấy cảnh ngụ tình cổ điển, ở đây đã được Thâm Tâm phủ định một cách dứt khoát để tạo ra một bối cảnh mới cho cuộc phân ly của con người hiện đại. Không đưa qua sông, dòng sông biến mất, không gian trở thành vô định. Bóng chiều không sắc màu, thời gian cũng trở nên vô nghĩa. Dù nhà thơ cố gắng xua tan mối hoài nghi: "Đưa người, ta chỉ đưa người ấy", cái con người mang lý tưởng "đầu đội trời chân đạp đất" một thời, nhưng ám ảnh về một cái tôi bé nhỏ giữa cõi hư vô vẫn hiện diện. Nó hiện diện qua hình ảnh mẹ già với sự sống ngắn ngủi, qua hai chị như sen cuối mùa tàn tạ, qua em nhỏ ngây thơ bé bỏng để rồi kết tinh lại thành những thân phận mong manh: "chiếc lá bay", "hạt bụi", "hơi rượu say". Ly khách buồn với nỗi buồn thăm thẳm từ "chiều hôm trước", đến "sáng hôm nay" vì cảm nhận sâu sắc cái kiếp người bé nhỏ mong manh ấy. Hơn nữa bản thân Ly khách hôm nay ra đi đã biết về đâu. Con đường tự do của cái tôi cá nhân trong buổi giao thời chưa định hình một cách rõ nét, tất cả đều mịt mờ, hư ảo. Rốt cuộc Ly khách cũng chỉ là "chiếc lá bay", "hạt bụi", "hơi rượu say" bé nhỏ và mong manh trên hành trình phiêu lưu ấy.

Vẻ đẹp của Tống biệt hành không nằm trong ảo tưởng về một con người mang vóc dáng khổng lồ giữa đất trời chật hẹp mà nằm ở chiều sâu vô hạn trong tâm hồn của cái tôi bé nhỏ giữa cõi hư vô. Trong khi tạo ra khoảng không cho cõi hư vô, những gì thuộc về ngoại cảnh đã được nhà thơ chuyển hóa vào tâm cảnh. Trái tim chứa đựng cả một dòng sông mênh mang con sóng và ánh mắt mơ màng mang cả chân trời hoàng hôn ly biệt. Cái tôi bé nhỏ nhưng tâm hồn như chứa đựng tất cả mọi chiều kích lớn lao của đất trời, thâu nhận mọi vẻ đẹp của nhân gian. Ly khách sẽ ra đi không phải với tư thế "dọc ngang nào biết trên đầu có ai" mà đi với cả một tâm hồn lớn, trái tim và ánh mắt nhạy cảm của mình như hướng tất cả vào tình người, vào nỗi đau nhân thế.

Tống biệt hành, một cuộc chia ly thường tình nhưng chứa đựng trong nó cả một vũ trụ biệt ly. Không còn dè dặt nép mình vào thiên nhiên, Thâm Tâm tạo ra một cái tôi độc lập với tất cả vẻ đẹp lớn lao của tâm hồn. Thâm Tâm viết bài thơ này như đi trên chiếc cầu chênh vênh giữa hai nền văn hóa cũ và mới, cuối cùng tạo ra một bứt phá ngoạn mục để tiến đến điểm hẹn của thi ca hiện đại. Tống biệt hành cổ nhưng mới hơn tất cả những bài thơ mới hiện thời.


_________________

Đừng tự hào mình nghèo mà học giỏi.
Hãy tự hỏi tại sao mình giỏi mà vẫn nghèo



Wed Feb 23, 2011 9:36 am
avatar
[Thành viên] - no_love90mod
mod
Bài viết : 186
PMP : 389
Được thanks : 2
Tham gia ngày : 15/02/2011
Tuổi : 28
Đến từ : 12/1

Bài gửiTiêu đề: Re: Vẻ đẹp đích thực của cái tôi trữ tình trong "Tống biệt hành" (*)
Xem lý lịch thành viên http://vcdk08.forumvi.com

Tiêu đề: Vẻ đẹp đích thực của cái tôi trữ tình trong "Tống biệt hành" (*)

Những bài học từ nền văn học cách mạng và kháng chiến

Nền văn học cách mạng và kháng chiến ở đây là khái niệm để chỉ giai đoạn văn học từ 1945 đến 1954 của buổi đầu đất nước ta giành được độc lập và thời kỳ kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Đây là thời kỳ lần đầu tiên có một nền văn học thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nền văn học ấy không chỉ dừng lại ở năm 1954 mà còn phải kể đến một số tác phẩm viết về kháng chiến vài năm sau hòa bình lập lại như Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Một truyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái, Núi Đôi của Vũ Cao...


Một thực tế hùng hồn và sinh động
Người ta đã chia khoảng thời gian mười lăm năm, 1930 - 1945, thành một giai đoạn văn học. Giai đoạn này có ba dòng văn học cùng tồn tại: văn học cách mạng (có từ những năm 1920), văn học hiện thực phê phán (đại diện tiêu biểu là Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan) và văn học lãng mạn, mà hạt nhân là Phong trào Thơ mới. Phong trào Thơ mới, đến nay vẫn được coi là một thời kỳ thăng hoa rực rỡ của thơ ca Việt Nam, làm xao động mạnh mẽ đến mọi trái tim của công chúng đương thời và ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều năm sau. Thơ mới chỉ diễn ra trong vòng mười năm, từ 1932 - 1941.
Ðánh giá về sự đóng góp, cũng có thể nói là sự khác biệt của Thơ mới nói chung, của văn học lãng mạn nói riêng, chính là sự xuất hiện của cái tôi. "Ngày thứ nhất - ai biết đích ngày nào, chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ. Nó như lạc loài nơi đất khách bởi nó mang theo một quan niệm chưa từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân" (Thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh, Hoài Chân). Tố Hữu cho rằng, Thơ mới đã nói lên được "một nhu cầu lớn về tự do và về phát huy bản ngã". Con người trong văn học cũng như trong xã hội trước đây là cái ta, ta của chức phận, của con người hệ thống. Bây giờ là con người cá nhân, riêng biệt, là một thế giới, một vũ trụ:
Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất
Không có chi bè bạn nổi cùng ta
(Xuân Diệu)
Cái tôi, khi đẩy lên cực đoan, sẽ là tiêu cực, nhưng sự phát hiện, khơi dậy cái tôi cá nhân đã đem lại cho văn học và xã hội một sức mạnh mới, một tiếng nói mới, một giá trị nhân văn mới, đem lại quyền sống tự nhiên, tự do cho con người; thấy rõ sự sống là vật báu mà thiên nhiên ban tặng.
Nhưng cái tôi không cứu được sự bế tắc của văn học lãng mạn vì nó chính là một phần của nguyên nhân. Giữa lúc đó, Cách mạng Tháng Tám nổ ra rồi kháng chiến trường kỳ. Không chỉ có các văn nghệ sĩ, mà tất cả mọi dãy núi, mầu mây và dòng sông đều cuốn vào cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Trong cuộc "nhào nặn" đó, đã làm bật ra, tuôn trào một dòng văn học mới căng tràn nhựa sống.
Cũng đúng 10 năm (1945 - 1954) dòng văn học mới đã mang cái tôi đang có nguy cơ thiếu dưỡng khí hòa vào cái ta rộng lớn, làm cho nó trở nên mạnh mẽ hơn trong dòng chảy từ truyền thống thấu suốt tới tương lai. Khác với cái ta xưa khuôn mình trong bổn phận, cái ta nay là sự hài hòa rất đẹp với cái tôi, cất nên tiếng ca mới lảnh lói, trong lành. Con người cá nhân tìm thấy chỗ đứng giữa nhân dân, văn học tìm thấy chỗ đứng cao cả trong sự nghiệp dân tộc. Nhiều tác phẩm được viết trong thời kỳ này sống mãi với thời gian: Ðôi mắt của Nam Cao, ký sự của Trần Ðăng, Làng của Kim Lân, Việt Bắc của Tố Hữu, Ðất nước của Nguyễn Ðình Thi, Núi Ðôi của Vũ Cao, Bên kia sông Ðuống của Hoàng Cầm, Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Nhớ của Hồng Nguyên, Ðồng chí của Chính Hữu, Ðêm nay Bác không ngủ của Minh Huệ, Thăm lúa của Trần Hữu Thung...
Những bài học cho hôm nay
Văn học Việt Nam cũng như các loại hình nghệ thuật khác trong thời kỳ đất nước đổi mới, nói rộng ra là từ năm 1975 đến nay, có khá nhiều thành tựu, bồi bổ thêm nhiều phẩm chất mới; tuy nhiên, chưa có được những thành tựu nổi bật, chưa có những tác phẩm tương xứng so với lịch sử và đòi hỏi của thời đại.
Ta có thể học tập được những bài học gì của nền văn học cách mạng và kháng chiến?
Trước hết, theo chúng tôi đó là một nền văn học thống nhất, thống nhất trong lý tưởng, trong một đội ngũ, trong những mục tiêu được xác định. Những mục tiêu đó được chỉ dẫn bởi tư tưởng Hồ Chí Minh về văn nghệ. Trong "Thư gửi anh em văn hóa và trí thức Nam Bộ" ngày 25-5-1947, Người viết: "Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em văn hóa và trí thức phải làm cũng như là những chiến sĩ anh dũng trong cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho Tổ quốc". Ở "Thư gửi Hội nghị văn hóa toàn quốc lần thứ hai", ngày 15-7-1948, Người lại khẳng định: "Trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến, kiến quốc của nhân dân ta, văn hóa gánh một phần rất quan trọng... Các nhà văn hóa ta phải có những tác phẩm xứng đáng chẳng những để biểu dương sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc bây giờ mà còn để lưu truyền những gương mẫu oanh liệt kháng chiến kiến quốc của con cháu đời sau". Ðến "Thư gửi các họa sĩ nhân dịp Triển lãm hội họa năm 1951", Người xác định rõ hơn: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có một nhiệm vụ nhất định, tức là: phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh. Ðể làm tròn nhiệm vụ, chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng, nói tóm lại là phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết, trước hết".
Bài học thứ hai, muốn cho nền văn học được khỏe khoắn thì cảm hứng chủ đạo phải là cảm hứng về Tổ quốc, dân tộc, về sự nghiệp lớn của nhân dân.
Bài học thứ ba, là bài học về sự gắn bó với cuộc sống. Tính hiện đại, tính nhân bản của nghệ thuật chỉ có thể có được khi người nghệ sĩ có sự gắn bó máu thịt với đời sống, vì tính hiện đại nằm ngay chính trong đời sống thường nhật của quê hương mình, dân tộc mình. Cuộc đấu tranh cam go để bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng; cuộc đấu tranh đòi hỏi những gắng gỏi, hy sinh để bứt phá khỏi nghèo nàn, lạc hậu, sánh vai cùng các cường quốc năm châu chưa thấy hiện lên khỏe khoắn, hoành tráng trong văn học nghệ thuật.
Có những văn nghệ sĩ coi việc phản ánh chân thật cuộc sống là tầm thường. Việc cổ vũ sự nghiệp cách mạng của quần chúng nhân dân là việc của tuyên huấn, tuyên truyền. Quan niệm như vậy thật là một sự cứng nhắc, không thấu đáo. Nghệ thuật luôn hướng về cái đẹp. Tuyên truyền lý tưởng và nhân phẩm cũng luôn hướng về cái đẹp. Bởi vậy, ở đây có một sự thống nhất biện chứng.
Có những người lại cho rằng, nghệ thuật phải hướng tới vĩnh cửu, là hướng ra thế giới, hướng tới người đọc cao siêu của muôn sau nào kia, chứ không phải cho những người lao động hôm nay. Ðiều đó nếu có đúng, chỉ đúng một phần rất nhỏ. Về vấn đề này, đồng chí Trường Chinh trong bài "Mấy vấn đề cụ thể trong văn học và nghệ thuật" đã nói rất có lý, có tình: "Văn nghệ sĩ nào có đủ điều kiện hoặc cao hứng, muốn sáng tác kỹ và lâu để cho nghệ thuật được "vĩnh cửu" xin cứ làm. Một điều chắc chắn là nếu văn nghệ sĩ đó trung thành với thời đại, đi sát cuộc chiến đấu của dân tộc và đời sống của nhân dân, thì tác phẩm của họ, nghệ thuật càng cao, càng có ý nghĩa tuyên truyền mạnh... Nếu tác phẩm của ta tả một cảnh sinh động thì nhất định quần chúng sẽ hiểu, sẽ cảm, sẽ biết thưởng thức và sẽ ưa thích. Cảm tình của quần chúng trong trẻo, chân thật và nồng thắm vô cùng".
Ðể kết thúc bài viết này, xin trích lời Nguyễn Ðình Thi, một nhà văn hóa lớn đã quá cố, như một lời nhắn gửi những người cầm bút hôm nay:
"Văn nghệ phụng sự kháng chiến, nhưng chính kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới...
Trong muôn nghìn khó khăn cực khổ, cuộc sống kháng chiến của chúng ta vui sướng bao nhiêu. Ðời chúng ta chan chứa một niềm vui chói lọi, cái vui làm chủ được cuộc sống, cái vui khỏe người, cháy rực, dạt dào lòng yêu. Chúng ta yêu trời sao vô hạn và giọt sương buổi sáng. Chúng ta yêu đất nước tưới đẫm mồ hôi người, mỗi viên gạch, mỗi hòn đất nói lại bao nhiêu vinh quang hay tủi hờn.
Chúng ta đòi một văn nghệ mang được sự sống của những con người nơi ấy, chúng ta muốn giở những trang sách cháy bỏng đầu ngón tay".
Vậy đó, nghệ thuật chỉ có thể có được mùa hoa trái ngọt lành khi biết cắm rễ sâu vào hiện thực, hút nhụy mật từ cuộc sống sôi động và muôn sắc. Và chính người cầm bút không phải đứng ngoài, đứng trên, mà phải đứng giữa trung tâm cuộc sống, giữa sự nghiệp của nhân dân mình, dân tộc mình, phấn đấu quên mình cho thắng lợi của sự nghiệp đó. Không có thái độ ấy thì không thể có gì. Nhưng chỉ như vậy, đã rất lớn, cũng chưa đủ. Còn cần phải có tài năng, không chỉ bẩm sinh mà còn rèn giũa, bồi bổ được trong sự gắn bó con người, trong một tình yêu vĩ đại.


_________________

Đừng tự hào mình nghèo mà học giỏi.
Hãy tự hỏi tại sao mình giỏi mà vẫn nghèo



Vẻ đẹp đích thực của cái tôi trữ tình trong "Tống biệt hành" (*)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang
Trang 1 trong tổng số 1 trang
* Không dùng những ngôn từ thiếu lịch sự.
* Bài viết sưu tầm nên ghi rõ nguồn.
* Tránh spam nhảm không liên quan đến chủ đề.

Yêu cầu viết tiếng Việt có dấu.


Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
۩ DIỄN ĐÀN TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG-BÌNH TRỊ-THĂNG BÌNH-QUẢNG NAM۩ :: văn-
Copyright © 2011 Bản quyền thuộc về DIỄN ĐÀN TRƯỜNG THPT LÝ TỰ TRỌNG - QUẢNG NAM. Designed bởi Võ Hồng Nhân.Mọi thắc mắc góp ý xin gởi về langtu.dasau.kodatinh@gmail.com hoặc 0984096102.Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Free blog